Khi tiến hành thu hồi đất mà nhà nước bồi thường chưa thỏa đáng thì người dân có quyền không giao đất hay không?
Đất đai thuộc quyền sở hữu của ai?
Căn cứ theo điều 4 Luật đất đai 2013 quy định rằng:
“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”
Tại quy định này, ta có thể hiểu rằng là không có một cá nhân, tổ chức nào có quyền sở hữu đất đai thuộc về mình, mà đất đai thuộc sở hữu của toàn thể nhân dân đất nước Việt Nam. Đồng thời chỉ duy nhất chủ thể Nhà nước đứng ra làm đại diện và thực hiện trao quyền sử dụng cho người sử dụng đất mà không có bất kỳ chủ thể nào được phép thực hiện. Điều này cũng phù hợp với quy định tại điều 53 Hiến Pháp 2013.
Vậy người sử dụng đất là những ai?
Căn cứ theo điều 5 Luật đất đai 2013 quy định:
“Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, bao gồm:
- Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức);
- Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân);
- Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;
- Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo;
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ;
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch;
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư.”
Khi nhà nước thu hồi đất và bồi thường chưa thỏa đáng cho người sử dụng đất, thì người sử dụng đất có quyền không giao đất cho nhà nước hay không?
Căn cứ theo quy định tại điều 16 Luật đất đai 20213:
1. Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
a) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;
b) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;
c) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.
2. Nhà nước quyết định trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.”
Theo quy định này, Nhà nước sẽ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; hay trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Đồng thời nhà nước sẽ quyết định giá bồi thường về đất theo giá đất cụ thể dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai và áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp.
Như đã nói thì người sử dụng đất chỉ được giao quyền sử dụng đất còn Nhà nước mới là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Do đó, người dân không được thỏa thuận về giá bồi thường, nếu nhận thấy giá đó không thỏa đáng thì người dân vẫn phải tiến hành giao lại đất cho Nhà nước quản lý. Tuy nhiên, người dân vẫn có quyền khiếu nại hay khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho mình.
Trên đây là toàn bộ nội dung về “Khi tiến hành thu hồi đất mà nhà nước bồi thường chưa thỏa đáng thì người dân có quyền không giao đất hay không?”. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp cho các bạn giải đáp phần nào thắc mắc liên quan đến vấn đề này.
Nếu còn điều gì chưa rõ, cần hỗ trợ tư vấn, bạn có thể liên hệ vào hotline 0968-353-507 / 0947-994-288 để Greenlaw giải đáp thắc mắc giúp bạn nhé.
Trân trọng cảm ơn!
Tôi là luật sư Hoàng Văn Việt hiện là giám đốc của Công ty Luật TNHH Greenlaw. Với các kiến thức trong nhiều năm hoạt động về lĩnh vực dịch vụ pháp lý. Hy vọng những chia sẻ, tư vấn của tôi sẽ giúp ích được cho bạn.





